Không gian văn hóa Hùng Vương Phú Thọ

Văn hóa Hùng Vương từ lâu vốn đã lan tỏa khắp lãnh thổ Việt Nam. Nền văn hóa ấy đã tạo ra một bản sắc riêng, bản sắc văn hóa Việt. Nhưng nói đến "không gian văn hóa Hùng Vương" thì ai cũng nghĩ ngay đến Phú Thọ và các vùng lân cận, nơi phát tích ra nền văn hóa ấy.
Ở miền Ðất Tổ Phú Thọ hiện còn rất nhiều làng Việt cổ với dấu ấn để lại là các di chỉ khảo cổ, chứng tỏ những nhóm cư dân Việt cổ đã định cư thành làng ở đó liên tục từ tiền sử đến nay. Họ để lại dấu tích của các nền văn hóa Phùng Nguyên (4000 năm), Ðồng Ðậu (3.500 năm), Gò Mun (3.000 năm), và Ðông Sơn (hơn 2.000 năm).
Chế độ công xã Hùng Vương còn sót lại ở các làng Việt sau này là chế độ ruộng đất công, cùng các thiết chế tổ chức làng xã cổ truyền theo nguyên tắc cộng đồng làng xã. Có lẽ nhờ hai nội dung chính ấy mà các làng Việt có mối cố kết bền chặt trở thành các pháo đài bất khả xâm phạm.

Văn hóa Hùng Vương, trước hết là sự phát triển tín ngưỡng của người Việt. Thời nguyên thủy tổ tiên ta còn sống lệ thuộc vào thiên nhiên, dựa dẫm vào thiên nhiên, cần sự che chở của thiên nhiên. Hoàn cảnh ấy đã nảy sinh ra vô khối các thần thiên nhiên được thờ cúng khắp nơi: Thần núi, thần sông, thần rừng, thần suối... Vì con người tự thấy mình quá yếu đuối mỏng manh, cần được sự che chở của vị thần khỏe mạnh, do vậy thần đá xuất hiện và tục thờ đá thấy ở nhiều nơi. Thậm chí bình vôi dùng lâu kết lại thành đá đặc kín ruột bình không còn dùng đựng được vôi người ta đem bỏ vào gốc đa, gốc si là loài cây có rễ chằng chịt giăng mắc như nôi như võng là nơi tụ tập đủ loại ma đói ma khát. Dân gian để bình vôi vào đấy để thờ đá và cầu thần đá trừ tà cứu dân.

Mặt trời là vị thần xuất hiện sớm, gần gũi, vì hằng ngày mang ánh sáng sự sống cho con người và muôn loài, do vậy tín ngưỡng thờ thần mặt trời xuất hiện trước cả thời đại Hùng Vương. Dân ta làm nghề nông trồng lúa nước, các cư dân lúa nước đều có tín ngưỡng phồn thực, cầu cho con người, mùa màng và con của sinh sôi phát triển. Hạt nhân tín ngưỡng này là tục cầu thờ sinh thực khí lấy vật giống nam và nữ để làm hèm bằng những hành động tính giao gián tiếp (hoặc trực tiếp) để con người con của, mùa màng bắt chước theo mà sinh sôi phát triển. Cùng với tín ngưỡng thờ nhiên thần, tín ngưỡng lúa, tổ tiên ta còn thờ người khai dân lập ấp, thờ người có công với dân, với nước. Phú Thọ là địa bàn đậm đặc nhất tín ngưỡng thờ Vua Hùng và các nhân vật thời Hùng vương. Người Mường Phú Thọ còn có tục thờ Vua Hùng trên bàn thờ dòng dõi ở sát thượng lương các ngôi nhà cái (nhà con trưởng). Gia đình nào cũng có bàn thờ gia tiên và thờ thần thổ công táo quân vua bếp...
Tóm lại, dân ta từ thời Hùng Vương đã rất sùng bái tín ngưỡng. Các tín ngưỡng được lồng ghép tích hợp trong một nghi lễ. Thí dụ, tục đánh phết có ở nhiều nơi không chỉ để kỷ niệm một vị thần mà còn tích hợp vào đó các tín ngưỡng phồn thực và thờ mặt trời. Bản chất của tín ngưỡng là để tạ ơn và cầu mong sự che chở của các hồn, các thần phù hộ cho mình, gia đình mình và cộng đồng xóm làng mình được bình yên khỏe mạnh trường thọ ăn nên làm ra phát triển mọi mặt.
Xã hội Hùng Vương dù trên có Vua, dưới có quan lạc hầu lạc tướng, ở làng chạ có quan bồ chính cai quản. Vua và dân còn cùng ăn, cùng làm, chết cùng chôn chung một nghĩa địa (ở di chỉ làng Cả Việt Trì thấy mộ quan liền mộ dân vì khác nhau ở đồ tùy táng). Hội đồng bô lão quyết đáp những công to việc lớn của làng chạ. Mỗi thành viên của làng chạ đều là con dân của cộng đồng, được cộng đồng bao bọc để không một ai bị biến thành nô lệ, là con vật sở hữu của kẻ chủ nô nào. Chính nhờ chế độ công xã Hùng Vương ấy mà Việt Nam ta đã không phải trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Bước vào chế độ phong kiến, ruộng đất ở làng xã phần nhiều vẫn là của công. Dù triều đình có phong điền trang thái ấp cho quý tộc thì ruộng đất cũng chỉ trong tay một đời ông quý tộc. Ông ta chết đi ruộng đất lại trả về cho dân làng chia nhau cùng cấy hưởng hoa lợi.

Làng nào cũng có nhiều quỹ đất công: ruộng tự điền dành cho tín ngưỡng. Học điền dành cho phát triển giáo dục. Rồi ruộng họ, ruộng xóm, ruộng của phe, của giáp... Làng nào cũng có những khu ruộng lính. Nhà nghèo không có tiền tậu ruộng đất được làng mạc họ hàng cử đi lính để gia đình ở nhà có dăm bảy sào ruộng cày cấy sinh sống. Người đi lính vợ con ở nhà được dân làng bao bọc. không chỉ thế vợ con cha mẹ họ còn được cả họ chăm lo vì khi xưa 'một người làm quan cả họ được nhờ', gia đình lớn rất được coi trọng, làng xóm quê hương vì thế từng có ý nghĩa lớn lao đối với mỗi người Việt Nam. Xưa không ai muốn bỏ làng mất gốc. Tình yêu nước của mỗi người Việt Nam được bắt nguồn từ tình yêu làng xóm quê hương là vì vậy.
Nhà nước Văn Lang cổ đại, có kinh thành Phong Châu theo truyền thuyết. Nhưng dấu tích kinh thành thì không còn thấy. Ở vùng Ðất Tổ hầu như làng nào cũng có rừng Cấm. Ðó là khu rừng thiêng của các làng chạ: Hằng năm dân làng đến đấy làm lễ mở cửa rừng, lễ động thổ hoặc mở hội thề (một nghi lễ tối cổ của các cộng động người xuất hiện rất sớm từ trước khi có luật tục).
Phải chăng rừng Cấm chính là các căn cứ, đồn lũy, trụ sở thời Hùng Vương. Thời ấy vùng Việt Trì - Phong Châu còn rừng rậm rạp và đầm lầy ngăn cách. Cư dân Hùng Vương lại thạo nghề sông nước (hiện vật khảo cổ và văn hóa Trống Ðồng nói lên điều này). Khi có giặc đến, họ vào rừng phục kích chiến đấu và xông ra thuyền mảng để bao vây tiến công địch. Thời ấy có lối đánh giáp lá cà vì chỉ tìm thấy vũ khí đánh gần như dao, búa, kiếm, mác, mũi lao... Truyền thuyết về thành Phong Châu cổ cũng không thấy nói gì đến thành lũy, lâu đài nguy nga tráng lệ. Ðời Vua Hùng thứ 18, chiến tranh diễn ra liên miên giữa hai nước Lạc Việt và Âu Việt. Có lẽ do hoàn cảnh thời chiến nên Vua Hùng sống dựa vào thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên và hòa vào với làng chạ. Lối sống dung dị chan hòa ấy đã để lại những dấu ấn rất bình dị trong làng Việt sau này. Dù nhà giàu hay nhà nghèo, khác nhau ở mái tranh hay mái ngói nhưng tất cả đều chìm trong bóng lũy tre làng. Không có kẻ bề trên cậy giàu, cậy quyền xây nhà cao lừng lững ngạo nghễ tách biệt khỏi dân làng vì ai ai đều phải dựa vào cộng đồng để phòng trộm cướp, hỏa hoạn còn có sự cứu giúp của mọi người. Lối sống hòa hợp ấy của người Việt đã giúp ông cha ta có những chính sách để dung hòa mọi tôn giáo với phong tục và tín ngưỡng bản địa. Bằng chủ trương tam giáo đồng tôn (nho, phật, lão) mà ta thấy chùa chiền, thiết chế Phật giáo có thờ cả thần của dân gian, có khi thờ cả quan lại của phong kiến nho giáo. Ðình là thiết chế hành chính của làng xã, không chỉ là công đường mà là còn là nơi hội hè, vui chơi của cộng đồng. Ðình thờ vua của làng. Các thần Thành Hoàng làng không chỉ đại diện cho giới phong kiến Nho giáo mà có khi còn là đạo sĩ hoặc phật tử có công với dân làng... Tinh thần tôn giáo đồng tôn ấy đã hạn chế tình trạng chính trị cực đoan giúp cho lịch sử Việt Nam phát triển (tuy thời Trần cũng có lúc Vua ra lệnh đuổi sư ra khỏi chùa và nhà Nguyễn bài đạo Gia Tô vì  mục đích bảo vệ đất nước).

Không đâu khác trên lãnh thổ Việt Nam như ở vùng Ðất Tổ Phú Thọ còn thấy lưu giữ rất nhiều di chỉ khảo cổ Ðông Sơn là văn hóa khảo cổ giai đoạn nhà nước Văn Lang cùng các truyền thuyết về giai đoạn lịch sử ấy. Lễ hội dân gian, di tích thờ cúng Hùng Vương và các tài liệu điền dã dân tộc học khác có dày đặc ở Ðất Tổ là những nội dung góp phần tạo ra phong tục Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

Danh Lam Thắng Cảnh

Khu di tích Đền Hùng Phú Thọ  
Suối nước nóng Thanh Thủy
Vườn quốc gia Xuân Sơn
Đền Lăng Sương Phú Thọ