Du Lịch Bắc Ninh-Chùa đồng Nhân

Tour Du Lịch Bắc Ninh - Chùa Đồng Nhân (tên chữ Hán đầy đủ là “Phổ Đồng Nhân tự”) tọa lạc trên khu đất cao tại cuối ngõ số 5 phố Vũ, phường Đại Phúc, TP Bắc Ninh. Theo tên gọi, chùa được dựng lên là để thờ cúng những người chết không có thân nhân cúng giỗ.
Chùa được xây dựng vào thời Nguyễn (năm 1877). Hiện tại, trên câu đầu tòa nhà khách, còn hàng chữ khắc chìm, mà qua đó, chúng ta biết được niên đại xây dựng tòa nhà này: “Hoàng triều Duy Tân tứ niên, tuế thứ Canh Tuất, bát nguyệt, nhị thập nhất nhật lương thời thụ trụ thượng lương đại cát” (Dựng nhà vào giờ tốt ngày 21 tháng 8 năm 1910), còn câu đầu đối xứng được khắc chìm một câu thần chú của Phật giáo Mật tông là “Úm ma ni bát mi hồng”. (Cần lưu ý rằng, không biết từ bao giờ, có một người nào đó đã dùng mực tầu viết đè lên những dòng chữ Hán đã được khắc chìm trước đó với niên đại là Tự Đức và trên câu đầu bên kia cũng được viết 5 chữ Hán là “Càn nguyên hanh lợi chinh” bằng mực tầu là chứng cứ ngụy tạo rất vô trách nhiệm).
Tìm hiểu những tư liệu thành văn và tín ngưỡng thờ tự ở chùa Đồng Nhân, chúng tôi nhận thấy tại ngôi cổ tự này còn lưu giữ được nhiều tư liệu quí.
Trước hết, là tư liệu về cách ghi niên đại trên các hoành phi, câu đối và thời gian trùng tu tôn tạo chùa.
Chùa Đồng Nhân có các bức hoành phi, câu đối sau:
+ Tại tòa Tam bảo và Tiền đường có các bức hoành phi:
“Từ bi ẩn hiện” , “Cấp Cô Độc viên” (“Vườn của Cấp Cô Độc”), “Đại Tráng Đồng Nhân” và các đôi câu đối:
1- Đại đức từ bi, bát nạn tam đồ giải thoát,
- Pháp thông ẩn hiện, tứ sinh lục đạo siêu thăng.
(Tạm dịch: - Đức lớn từ bi, giải thoát ba đường tám nạn,
- Pháp thông ẩn hiện, bốn loại sáu cõi siêu thăng).
2- Cấp Cô trưởng giả mại danh viên hoàng kim mãn bố,
- Thái tử Kỳ Đà văn diệu pháp cổ mộc trọng thi.
(Tạm dịch: - Trưởng giả Cô Độc vua vườn, vàng ròng muôn vạn,
                 - Thái tử Kỳ Đà nghe pháp, cổ thụ cúng giàng).
3- Đương thiên vạn nhân lai vãng trình đồ, tân thiền cựu miếu, tương liên Đại Tráng nguy nga kiến văn khoáng cổ,
- Lai tam thiên giới, lưu ly phẩm vựng, bảo sở hóa thành, bất viễn Đồng Nhân siêu độ tiếp dẫn hoằng bi.
(Tạm dịch: - Nghìn vạn người tìm đến cửa thiền, chùa tân, miếu cổ, Đại Tráng nguy nga nghe nhìn khắp trong kim cổ,
- Đến ba cõi trời, lưu ly sáng chói, tòa đẹp dãy dài, Đồng Nhân gần lắm, siêu độ tiếp dẫn muôn người).
Tất cả các hoành phi câu đối trên đây đều có phần lạc khoản đề là (“Long Phi Kỷ Mão niên tạo”) và đều do vị Chánh Cửu phẩm, Bá hộ Nguyễn Văn Truyền người xã Đại Tráng công đức. Tìm hiểu cách ghi niên hiệu Long Phi trên các biển ngạch và hoành phi câu đối tại các cơ sở thờ tự tín ngưỡng tôn giáo ở Bắc Ninh chúng tôi thấy đây là cách ghi riêng của thời Khải Định và Bảo Đại. Niên đại Long Phi Kỷ Mão là năm 1939.
Ngoài ra, cũng tại tòa nhà này còn có một số hoành phi và câu đối mới được làm vào tháng trọng Xuân năm Giáp Thân (tháng 2 năm 2004). Đó là bức hoành phi: “Nam mô Phật”, 2 bức cuốn thư bằng gỗ “Thần công mạc trắc” (“Công lao của thần không đo đếm được”), “Thánh đức nan lượng” (“Đức độ của Thánh không thể cân đong được”) và các đôi câu đối:
1- Sắc tướng trang nghiêm, chư Phật đồng sinh an lạc quốc,
 - Từ bi phổ tế, tứ dân cộng ngưỡng phúc hà sa.
(Tạm dịch: - Từ bi tế độ, muôn dân nơi nơi cùng hưởng phúc,
- Hình tướng trang nghiêm, chư Phật đều sinh chốn yên vui).
2- Anh linh thập bát Long thần tượng,
- Hiển hách tứ phương thế giới trung.
(Tạm dịch: - Hiển hách bốn phương trong thế giới,
- Anh linh mười tám vị Long thần).
3- Khẩu tụng linh văn thí pháp thực
- Nhãn chiêm sư tòa tán chân châu.
(Tạm dịch: - Miệng tụng câu kinh, năng làm thí thực,
- Mắt ngước chùa tháp sáng lòa chân châu).
+ Tại nhà tổ có bức hoành phi: “Lưỡng quốc Hòa thượng” (“Hòa thượng hai nước”) các đôi câu đối:
1- Giao tình miêu ký, đắc tam thập bát niên tiền, nhi kim tăng tân điệp quật Tây hàng vô phi túc định,
- Trì khí cái đa, tinh kỷ thiên vạn lý, trọng ngoại đáo hà hải du Tây mãnh du Bắc kỳ đạo cao thiền.
(Quang Bảo tự Thiếu khanh, Thương tá tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Văn Nhã tặng, mùa xuân năm Thành Thái thứ 4 - 1892).
(Tạm dịch: - Ba tám năm trước, sư đi hải ngoại, ghi chép mọi sự bên Tây, không gì là không đầy đủ,
- Phong phú vô cùng, đi nghìn vạn dặm, phục người Tây mạnh, trở về đất Bắc, mình vẫn là sư).
2- Giác liễu sắc không tức tu thư hải thượng, tức thuyết pháp Tây đình, tứ đại vân yên khai tục chướng,
- Điệp mông vinh tặng nhược, ngân tiền thùy viện, nhược giáo đao độ điệp, cửu thiên vũ lộ cập sơn môn.
(Tạm dịch: - Hiểu hết các lẽ sắc không, khi soạn sách trên đường, khi thuyết pháp bên Tây, khi tỉnh tọa khói mây, liền hiểu ra nghiệp chướng,
- Không gì rộng bằng lá điệp, tiền bạc chẳng bằng ai, nếu giảng về điệp độ, qua chín nghìn đường mưa gió đến được sơn môn).
(Hàn lâm Kiểm thảo Lê Sĩ Phong, người Nhân Mục tặng).
3- Tiến thư tái hội, lưỡng thừa ân thiền lâm vận sự,
- Nam trụ Tây du song thượng tuyển Hòa thượng cao phong.
(Tạm dịch: - Dâng thư đến hội, hai lần hưởng ân, vận sự lại đến chùa Phật,
- Ở nước Nam, đến nước Pháp, hai lần được phong Hòa thượng danh cao).
(Bố Chánh sứ tỉnh Tuyên Quang Vũ Huy Tế tặng).
4- Y bát nhất đường truyền Phật pháp,
- Điệp đao phiến chỉ hà hoàng ân.
(Tạm dịch: - Y bát một đời truyền Phật pháp,
- Điệp phong một tấm bái hoàng ân).
5- Quân gia thanh phúc càn sơn trĩ,
- Thánh thế hồng ân nguyệt thủy nhu.
(Tạm dịch: - Quốc vương phúc rộng, chùa tháp đủ,
- Thánh thể ơn dày, bóng nguyệt trong).
(Mùa xuân năm Bảo Đại thứ 8 (1933), Bố chánh họ Đỗ tặng).
6- Thăng đường thuyết pháp đa niên, vi thiền sư, vi danh nho, vi lương y đại đạo uẩn tàng nguyên tự phú,
- Tái hội tiến thư song thưởng, hữu tinh bội, hữu long tiền, hữu đạo điệp, thử thời tam tế cảnh kỳ quan.
(Tạm dịch: - Lên tòa thuyết pháp nhiều năm, là thiền sư, là danh Nho, là lương y, đạo lớn chứa đầy, thật là giàu có,
- Dâng thư hai lần được thưởng, có bội tinh, có bài ngà, có đạo điệp, thời nay nhìn khắp, thật hiếm lắm thay).
(Mùa xuân năm Thành Thái thứ 4 (1892),Pháp tử Thành Vực xã Dĩnh Kế phủ Lạng Giang bái hạ).
Nội dung những đôi câu đối này đều ca ngợi tài năng, đức độ của vị Lưỡng quốc Hòa thượng Thích Thanh Cao. Theo nội dung 3 đôi câu đối thì hòa thượng Thích Thanh Cao đã từng sang Pháp giảng đạo và được phong Hòa thượng tại bên đó, nên được ban tặng danh hiệu “Lưỡng quốc Hòa thượng”. Văn bia còn lại trong chùa cũng cho chúng ta biết: Hòa thượng Thích Thanh Cao người làng Mạc Xá huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam sang Pháp. Tại đây, Hòa thượng đã có dịp thuyết pháp và được giáo hội Phật giáo Pháp phong là Hòa thượng. Hoà thượng Thích Thanh Cao là người có công sáng lập hội “Thanh Cao tập phúc”. Hội làm được hai việc có ý nghĩa từ thiện xã hội là chữa bệnh bằng thuốc Nam cho dân trong vùng và mở nhà in để in kinh Phật và các sách thuốc.  Hòa thượng Thích Thanh Cao viên tịch tại chùa Đồng Nhân ngày 22 tháng 10 năm 1892. Trên nhà tổ có thờ di ảnh của ngài.
+ Tại nhà khách có các bức hoành phi: “Tụ tinh thần” (hiệu Đức Thiện ở Hà thành cung tiến vào mùa thu năm Ất Sửu niên hiệu Khải Định (1925), “Kim cổ hà thù” và đôi câu đối:
- Mạch tích kỷ sùng sơn, thập nhị lâu đài khôi Đại Tráng,
- Tập linh thành phúc quả, tam thiên thế giới lạc Đồng Nhân.
(Tạm dịch: - Long mạch tốt phát từ núi cao, mười hai lâu đài huy hoàng Đại Tráng,
- Qui tập linh hồn nên quả phúc, ba nghìn thế giới an lạc Đồng Nhân).
(Mùa thu năm Bảo Đại thứ 4 (1929), Hàn Lâm viện Thị chiếu, Bắc kỳ dân biểu, người phố Tiền An Bắc Ninh Trần Đức Tích cung tiến).
+ Phía sau nhà khách có miếu Địa tạng thờ vị Địa Tạng vương Bồ tát (mới xây dựng năm 2004). Tại đây có ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh với đôi câu đối:
- Chí khí anh hùng danh Ái Quốc,
- Minh tinh lãnh tụ nghiệp Tất Thành.
(Tháng 2 năm Giáp Thân- 2004).
Bên cạnh là nhà Mẫu cũng mới được xây dựng năm 2004, có bức hoành phi “Mẫu nghi thiên hạ” và đôi câu đối:
- Đức phối càn khôn thiên hạ mẫu,
- Tài kiêm văn võ nữ trung vương.
(Tạm dịch: - Đức phối đất trời, mẫu nghi thiên hạ,
                  - Tài kiêm văn võ, nữ vương trong đời).
(Tháng 2 năm Giáp Thân- 2004).
Tư liệu thứ hai còn được lưu ở chùa Đồng Nhân là tấm bia “Đồng Nhân tự bi” hiện được dựng tại sân trước nhà tổ. Nội dung văn bia cho chúng ta biết chùa Đồng Đồng Nhân được xây dựng năm 1877 theo sắc chỉ của vua Tự Đức nhằm làm nơi hương khói cho những linh hồn binh sĩ và nhân dân vùng Kinh Bắc đã bị thương vong trong trận chống lại cuộc tấn công của quân Pháp vào Bắc Ninh năm 1873. Năm 1882, khi Tán lý quân vụ Nguyễn Cao (người xã Cách Bi huyện Quế Võ) đưa quân về đồn trú tại chùa, nhà sư Thích Thanh Cao đã mời Nguyễn Cao viết văn bia này. Tại mặt sau văn bia này, có họ tên của gần 200 người đã công đức tiền ruộng vào để xây dựng chùa.
Tại nhà khách, có một văn bia chứa đựng tư liệu rất đáng chú ý: Năm Duy Tân thứ 4 (1910), Tổng đốc Bắc Ninh là Nguyễn tướng công đến thăm chùa Đồng Nhân, nhân đó có nhắc nhở quận trưởng quận Võ Giàng (khi đó Đại Tráng thuộc Võ Giàng) là Nguyễn Quân và nhà sư trụ trì là Hòa thượng Thích Thanh Nhượng phải xây dựng thêm tăng phòng. Ngay sau đó vị Quận trưởng và vị Hòa thượng trụ trì đã vận động, khuyến giáo các chức sắc, tăng ni Phật tử trong vùng được gần 1000 nguyên và đã xây dựng được 5 gian nhà khách. 
Từ kết quả khảo sát thực tế chùa Đồng Nhân, chúng tôi thấy những tư liệu trên đây là rất quí. Chính quyền địa phương, nhà sư trụ trì cần phối hợp với ngành Văn hóa có kế hoạch và biện pháp bảo quản, giữ gìn.

Danh Lam Thắng Cảnh
























































Dịch Vụ Du Lịch