Du Lịch Bắc Ninh-Am Trinh Nghĩa

Tour Du Lịch Bắc Ninh - Am Trinh Nghĩa thờ hoàng phi Nguyễn Thị Kim trước thuộc thôn Tì Điện xã Bà Khê tổng Tì Bà, nay là thôn Tì Điện xã Phú Hoà huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay di tích này mới được xây dựng lại trên nền cũ, quy mô nhỏ trên 10 m2, lát sân, có tường bao, tổng diện tích 160 m2.
Trong hậu cung đặt ban thờ có tấm bia đá lập từ thời Gia Long năm thứ 3 (1804), phía ngoài có chữ viết trực tiếp vào tường phía trên (thường treo bức đại tự) 3 chữ “Trinh Nghĩa am”, hai bên là câu đối “Nguyễn triều gia tặng thiên thu tại/Cố lí anh phong vạn cổ tồn”. Ngoài cửa am có cây duối cổ thụ, gốc có tấm bia “Trinh nghĩa am bi kí” dựng năm Tự Đức thứ 4 (1751) viết chữ 4 mặt cho biết nhiều thông tin quý giá về nhân vật, công việc và thời giá khi dựng bia.
Tấm bia trong hậu cung có trang trí hoa văn rồng mây hoa lá chạm trổ tinh xảo. Phần trán bia có khắc chữ “chỉ tứ”. Phần giữa trán và thân bia có dòng chữ “Gia Long tam niên thập nguyệt”. Phần thân bia có hàng chữ chạy dọc chính giữa “An trinh tuẫn nghĩa môn” và hàng chữ lạc khoản bên cạnh “Thuận An phủ Lương Tài huyện tri huyện Nguyễn Đăng Sĩ phụng kiến”. Toàn văn cho biết tri huyện Nguyễn Đăng Sĩ phụng chỉ vua Gia Long dựng bia lời tuyên phong hoàng phi Nguyễn Thị Kim là “An trinh tuẫn nghĩa” vào tháng 10 năm Gia Long thứ 3. Hoàng phi Nguyễn Thị Kim giữ hạnh 15 năm rồi tuẫn tiết chết theo vua khi hoàn thành lễ tang vào ngày 12-10-1804 (âm lịch). Vậy thì vua Gia Long tuyên phong ngay sau khi hoàng phi tuẫn tiết và quan huyện sở tại đã phụng chỉ dựng bia ngay.
Tấm bia đặt ở gốc duối cổ thụ ngoài sân cho biết người đứng ra làm lại am và dựng bia là tri huyện Lê Khắc Cần, quê xã Ưu Đàm huyện Phong Điền phủ Thừa Thiên, bia dựng vào ngày đẹp tháng 4-1851 (Tự Đức tứ niên Tân Hợi mạnh hạ nguyệt cốc đán). Nội dung văn bia còn cho biết nhiều thông tin quý khác.
Về tiểu sử hoàng phi Nguyễn Thị Kim: Bà sinh năm 1745, con quan tham đốc Vãn Trung hầu quê Tì Bà (Lương Tài), có anh trai Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống là cận thần thân tín tòng vong bên cạnh vua Lê Chiêu Thống. Năm 1782 bà được tuyển vào cung hầu vua Lê Chiêu Thống. Năm 1786 bà có thai sinh ra con trai trưởng của vua. Năm 1789 quân Tây Sơn lấy ngôi khiến vua Lê phải chạy sang Thanh có quận công Hoàng Ích Hiểu ẵm con vua chạy theo. Hoàng phi chạy sau nhưng bị đứt cầu phao không theo kịp, phải tìm cách về quê lánh nạn rồi cắt tóc cải trang ở chùa Dương Nham tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn An Đà phường Đằng Giang thành phố Hải Phòng). Năm Nhâm Tí (1792) con trai bị bệnh đậu mùa chết yểu. Năm Quý Sửu (1793) vua Lê cũng qua đời. Đến tháng 2 năm Giáp Tí (1804) các cận thần là Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống… đưa linh cữu vua và con trai về nước. Tháng 8 linh cữu về đến cửa quan. Hoàng phi lên tận cửa ải đón. Từ hôm đó bà tuyệt thực mỗi ngày chỉ ăn hai bát cháo loãng cầm hơi. Tháng 9 linh cữu về đến Thăng Long. Ngày 12-10 các quan làm lễ thay hài cốt vua Lê sang tiểu mới. Sau khi xong việc hoàng phi đã uống thuốc độc chết theo. Các quan cựu triều lẫn đương triều đều thương xót quyên tiền, gấm để khâm liệm rồi cùng đưa thi hài bà theo vua và con trai về Lam Kinh an táng tại núi Bàn Thạch. Tô Xuyên hầu Nguyễn Huy Túc ngay khi đó đã viết bài “Tiêu cung tuẫn tiết hành” ca ngợi hoàng phi. Vua Gia Long nghe tin cũng ban sắc chỉ cho dựng bia “An trinh tuẫn nghĩa” tại quê nhà và cho dân thờ để biểu dương hành động phi thường và tấm lòng trong như ngọc giữ trọn tiết tháo của hoàng phi.
Về quá trình lập am dựng bia: Tháng 5 năm Tự Đức nguyên niên (1848) tri huyện Lê Khắc Cần đến nhậm chức liền đến Tì Bà thăm bia kỉ niệm hoàng phi thấy bia bị cỏ mọc um tùm mới họp bàn việc quyên tiền dựng am thờ để biểu dương con người tiết nghĩa hiển hách làm gương cho đời sau noi theo. Giao cho tú tài Phương Thế Nguyên người xã Bà Khê đứng ra trông nom công việc. Phụ giúp có cai tổng Nguyễn Đình Xương và Khúc Xuân Hiên. Sau gần 4 năm quyên tiền, cuối tháng 2-1851 khởi công xây dựng. Gần hai tháng sau hoàn thành. Quy mô am ba gian gỗ lim, xây tường gạch, lợp ngói, bia “An trinh tuẫn nghĩa” đặt ở gian giữa trước thềm hương án, bên ngoài tường hoa có hai trụ gạch có đặt bia mới làm ghi “Trinh nghĩa am bi kí”. Trên bia này ghi bài minh có những câu: “Lớn thay vợ hiền/Nữ trung anh kiệt/Gặp thời không may/Trước sau trọn tiết/Trụ đá cương thường/Nghìn năm tuyên dương”. Ngoài ra còn mua 1 mẫu 2 sào ruộng tại bản xã đặt làm tự điền.
 Một số thông tin khác: Bia liệt kê hơn 100 cá nhân, tập thể đã quyên tiền, trong đó có cả quan phủ, các huyện, quan triều hưu trí, người đỗ đạt, chức dịch các địa phương được 500 quan tiền. Bia cũng liệt kê danh mục mua sắm vật liệu, công thợ, dựng bia, khánh thành, mua ruộng… tổng số hơn 643 quan. Đáng chú ý tiền dựng bia “Trinh nghĩa am bi kí” hết 50 quan, trong khi tiền mua gỗ lim làm am chỉ hết có 64 quan; mua đất làm am 16 thước (384 m2) hết 10 quan, trong khi mua 1 mẫu 2 sào (4.320 m2) ruộng tự điền chỉ hết 40 quan. Bia còn ghi lệ cấy ruộng tự điền mỗi năm xuất 7 quan tế lễ. Giỗ ngày 12-10 (âm lịch) dùng 1 thủ lợn, gạo nếp, rượu và các thứ khác. Lễ xong biếu quan thủ lợn để quan biết địa phương có làm lễ chu đáo. Nếu am bị hỏng đâu thì địa phương phải tu sửa ngay.
Trải qua thời gian, đến năm 1948 am Trinh Nghĩa bị phá huỷ hoàn toàn trong chiến tranh. Mãi đến năm 2000 hậu duệ hoàng phi mới dựng lại am nhỏ như hiện nay và trực tiếp trông nom cúng tế.
Hoàng phi Nguyễn Thị Kim còn được thờ ở nhà mẫu chùa làng, cúng chung trong hội chùa rằm tháng giêng.
Tiết nghĩa cao cả của hoàng phi và mối tình với vua Lê Chiêu Thống không chỉ được người đương thời ca tụng mà người đời sau cũng luôn ghi nhớ. Vua Tự Đức có thơ về bà trong sách “Việt sử tổng vịnh” và xếp bà vào hàng liệt nữ. Ngô Gia văn phái viết nhiều dòng về bà trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Đặc biệt, hình ảnh khi thay tiểu cho vua thấy trái tim không tan, chỉ đến khi nước mắt hoàng phi rơi vào mới tan rữa đã làm rung cảm người mọi thế hệ. Ở thôn An Đà (phường Đằng Giang - Hải Phòng) dân tôn bà làm thành hoàng. Hàng năm ngày giỗ 12-10 địa phương lại mở hội lớn và nơi đây là địa điểm hấp dẫn du khách thường xuyên hiện nay. Đại diện chính quyền và nhân dân phường Đằng Giang cũng thường tổ chức về thăm viếng am Trinh Nghĩa nơi quê hương Tì Điện ngày nay.

Danh Lam Thắng Cảnh
























































Dịch Vụ Du Lịch