đặc Sản Sơn La

Đặc sản Sơn La , Món ngon Sơn La 

Cây Táo Mèo : 
Cây táo mèo thường mọc hoang và một số được trồng tại Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, ở độ cao trên 1.000m. Táo mèo phơi khô trong đông y được gọi là sơn tra là một vị thuốc quý dùng để chữa bệnh.
Táo mèo quả chín màu vàng lục, ăn có vị chua, hơi chát. Trong những bài thuốc có sơn tra có thể dùng táo mèo thay thế, điều trị vẫn đạt kết quả tốt. Nó có tác dụng tiêu hóa thức ăn tích trệ, tán ứ huyết, sát trùng, tăng cường miễn dịch, chống oxy hóa, hạ huyết áp, giảm cholesterol, kháng khuẩn tốt, bảo vệ gan, chống ung thư.
Theo y học cổ truyền, táo mèo (sơn tra) có tác dụng: Tiêu thực hóa tích, hoạt huyết tán ứ. Chủ trị các chứng tích trệ, bụng đau tiêu chảy, sản hậu ứ trệ đau bụng, nước ối ra không dứt, sán khí, đau tinh hoàn.
Y học hiện đại: Sơn tra được dùng khá phổ biến tại các nước Châu Âu, nhất là ở các nước Đông Âu như Nga, Ba Lan, Hungari. Tại các nước Tây Âu như Đức, Anh, Thụy Sĩ, Pháp, sơn tra được dùng làm thuốc chữa bệnh tim mạch. Chất chiết xuất từ sơn tra có mặt trong hơn 100 đặc chế dùng trị bệnh tim mạch như Crataegutt, Eurython, Esbericard, Cratamed…
Do có tác dụng khá mạnh trên cơ tim, nên sơn tra đã được sử dụng trong các trường hợp suy tim và giúp tăng hoạt động của cơ tim. Các amin của cây có tác dụng bổ tim. Còn các flavonoids gây sự gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, làm tăng nhịp tim, ngoài ra có tác động làm giãn mạch, nhất là mạch vành.
Sơn tra đặc biệt có công năng điều chỉnh rối loạn lipit (mỡ) máu và dự phòng tích cực các bệnh lý về tim mạch như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim. Dưới đây là một vài loại trà từ sơn tra (táo mèo) chữa rối loạn mỡ máu và dự phòng các bệnh tim mạch.

Thịt gác bếp :
Thịt bò ( trâu hay lợn) gác bếp là món ăn đặc sản của người Thái đen. Món này thường được làm từ thịt bắp của những chú bò (trâu, heo) thả rông trên các vùng núi, đồi. Khi chế biến, người ta róc các thớ thịt ra thành từng miếng, rồi hun bằng khói của than củi được đốt từ các loại cây mọc trên núi đá.
Với miếng thịt bò (trâu, heo) thành phẩm, mùi khói gần như vẫn còn nguyên, song lại không gây khó chịu. Các kỹ thuật chế biến đều là bí quyết gia truyền, song sản phẩm khá thuần nhất. Người làm dùng cách tẩm ướp thịt với các gia vị khác như ớt, gừng, đặc biệt là mắc khén - một loại hạt tiêu rừng của người dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc. Các gia vị này thậm chí còn nhìn thấy rất rõ trên từng miếng thịt. Miếng thịt khô nhưng vẫn giữ nguyên mùi vị đặc trưng. Khi ăn, món này được chế biến hoàn toàn tự nhiên, không có chất bảo quản nhưng vẫn để dự trữ được trong thời gian khá dài (khoảng một tháng).

Chè Tà Xùa :
Chè Tà Xùa xuất xứ từ xã Tà Xùa cách huyện Bắc Yên, Sơn La khoảng 14km đường rừng núi cheo leo. Cây chè ở đây rất đặc biệt, có búp trắng cánh vàng tạo một hương vị đặc trưng riêng mà không nơi nào có được.
Chè được bà con dân tộc Mèo sao tẩm trực tiếp. Hiện nay cây chè già nhất có lẽ ở bản Trung Trinh.
Rót chè vào chiếc chén Bát Tràng thật đẹp, chè Tà Xùa mang một mùi hương có phần giống chè Thái Nguyên, lại có vị khang khác lan tỏa. Nhấp một ngụm chè, cảm giác đầu tiên là vị đắng chát sau đó dần chuyển sang ngọt, vị ngọt thấm sâu vào trong cổ họng làm tan đi sự mỏi mệt...
Nước chè có mầu nâu sẫm không xanh như chè Thái Nguyên. Một ấm chè nhỏ nhưng sau bốn, năm lần thêm nước, màu nâu sẫm đó và hương vị chè vẫn còn giữ nguyên, những búp chè nở bung ra như những cánh hoa.
Chè Tà Xùa có lẽ đã gửi hương của mình nơi vùng đất này rồi, nếu đem cây chè tới trồng ở nơi khác thì không còn được hương vị đặc trưng của nó nữa. Chè Tà Xùa kén nước lắm đấy, tốt nhất là nước suối của vùng này, nếu ở dưới xuôi thì phải là nước khoáng đun sôi mới ngon.

Thật lạ, cây chè Tà Xùa chỉ ngon ở mảnh đất trồng ra nó, nuôi sống nó, như một đứa con gắn chặt với đất mẹ.
“Đường lên trời - đường lên Sốp Cộp. Đường xuống âm phủ - lối xuống Quỳnh Nhai”. Ấy là câu hát cửa miệng của bà con tỉnh Sơn La khi nhắc đến 2 địa danh nổi tiếng này.

Rượu Tùng Xẻo :
Xã Nậm Ét thuộc huyện Quỳnh Nhai là một trong những vùng xa xôi nhất của huyện ven dòng Đà giang gập ghềnh sóng nước. Muốn đến Nậm Ét, phải chiến thắng dòng sông Đà và qua một cây cầu “độc nhất vô nhị” trên thế giới. Đó là cây cầu được ghép bằng những thanh tre nứa và những đoạn cây keo khô. Cây cầu dài đáng sợ khi nước vỗ như cố đập nát cây cầu và từ trên cao nhìn xuống, cây cầu ấy như một sợi chỉ nhỏ kéo sang hai bên bờ của dòng sông. Bên kia Đà giang là xã Nậm Ét, biệt lập và trở thành “ốc đảo” tuyệt đẹp. Ở đây tập trung bà con dân tộc người Thái với tập quán làm ăn trên núi nên mỗi ngọn núi là một đại gia đình với đủ mọi thế hệ.
Chủ gia đình là những bà vợ với tài nấu nướng. Họ nấu rượu mỗi ngày như người ta nấu nước. Ở Nậm Ét có nhiều loại rượu ngon như rượu sắn, rượu ngô, rượu thóc. Nhưng nổi tiếng và ngon nhất là rượu “tùng xẻo”. Tôi không biết sao người ta lại gọi đó là rượu “tùng xẻo” trong khi tên gốc của loại rượu ấy là rượu “sơn tra”. Người địa phương quen dịch “sơn tra” là rượu nồng, loại rượu uống vào là say như rượu Bắc Hà của Lào Cai. Nhưng cái tên “sơn tra” không bắt nguồn từ Nậm Ét mà từ Sốp Cộp và Mường La. Thế nên, người Nậm Ét đặt riêng cho loại rượu của mình là “tùng xẻo”.

Loại rượu này khó nấu. Nguyên liệu để lên men gồm sắn, thóc, lá rừng và các loại rễ thuốc quý. Rượu được ủ 40 ngày dưới lòng đất mà người ta quen gọi là “hạ thổ”. Sau đó, đào lên “làm lễ” để nấu theo cách “ba ba cổ”. Trước khi nấu, chủ gia đình “tùng xẻo” một con gà trống và trộn với men lá để cho vào nồi rượu. Rượu được nấu trong vòng 12 tiếng bằng củi cây thông khô trên núi Pá Ma Pha Khinh. Chỉ người chủ gia đình mới được nấu loại rượu này và xem đó như là thứ nước linh thiêng để uống trong ngày lễ tết hoặc giỗ chạp, tiếp khách quý và cũng là thứ nước “xua đuổi ma tà” trong tâm niệm của bà con nơi đây.

Đến với Nậm Ét, trong khung cảnh trùng điệp núi non sông nước. Trong những ngày mưa gió hoặc khi trời trở rét là thời điểm lý tưởng để uống rượu “tùng xẻo”. Rượu có vị nồng thơm của lá rừng, rất ngấm và êm. Đặc biệt, lần đầu tiên thưởng thức rượu chỉ nên uống một ly nhỏ để đảm bảo không bị say.
Người đi xa về, khách nơi xa đến chỉ cần uống một ly nhỏ rượu sẽ xua đi cái lạnh cóng của miền sơn cước. Và ở Nậm Ét, hàng đêm họ tụ tập bên những bếp lửa bên nhà sàn, uống rượu “tùng xẻo” và kể cho nhau nghe những câu chuyện cổ tích.
Nam Trần

Các món khác :

Món măng lay, măng đắng ,Cá pỉnh tộp (Cá nướng),Cơm lam ,Cháo Mắc nhung ,Canh mọ,Nặm pịa ,Bọ xít

Bonus :
Món thịt dơi của người Thái Chiềng Khoi  
Chiêng Khoi là vùng của người Thái cư trú. Tại bản Hiêm, xã Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, có một hang đá rất lớn gọi là Hang Dơi. Đây là một hang rộng lớn, có nhiều ngách, đủ nước và ánh sáng cho một số sinh vật phát triển, đặc biệt là loài dơi.
Từ xưa, người Thái đã bắt dơi về chế biến các món ăn. Đây là món được coi là quý hiếm, chỉ dùng để biếu bố mẹ. Theo dân gian Thái, ăn thịt dơi trẻ con chóng lớn, thông minh, nhanh nhẹn, bay cao bằng cách cho ăn thịt dơi. Người già ăn thịt dơi khoẻ mạnh, kéo dài tuổi thọ. Một số người tin rằng, nếu tuổi trẻ được ăn thịt dơi, cuộc sống vợ chồng khoẻ hơn bình thường. Vì vậy, thịt dơi được nhiều người ưa chuộng. Người Thái Chiềng Khoi thường chế biến thịt dơi bằng mấy cách như sau:

Hăm Pịch Kia: Dơi làm sạch, chặt cánh để riêng, thịt băm nhỏ cho gia vị (củ xả, lá lốt, ớt, mắc khén, rau húng...). Sau khi thịt dơi và gia vị đã nhỏ tươi, người ta cho một chút muối rồi dùng cánh nó gói thịt lại như gói bánh đa nem. Do cánh dơi được gói kín, gia vị và thịt dơi không bị bay hơi, nên có vị thơm rát đặc biệt khi rán lên.

Lám Kia: Sau khi dơi đã làm sạch, người ta để cả con dùng gia vị (xả, mắc khén) nhét vào bụng rồi ấn vào ống tre gai, cho một vài hột sa nhân hoặc một vài vị thuốc dân gian, đổ một ít nước, nút bằng lá dong. Hầm 3-4 giờ, cạn nước laị đổ thêm. Nước trong ống dành cho người già và trẻ em dùng. Đây là một món có giá trị dinh dưỡng được dân tộc Thái rất ưa thích.
Quả phật thủ  

Quả Phật thủ thuộc họ cam, gần giống quả Bưởi nhưng có nhiều ngón tay, tượng trưng cho bàn tay Phật. Phật thủ không phải là thứ quả để ăn mà là 1 loại quả để dâng cúng, được đặt trên mâm ngũ quả thờ ông bà tiên tổ. Còn nơi Chùa Chiền Đình Miếu, đó cũng là để cúng Thần, với hương thơm thoảng như gần như xa...

Quả Phật thủ có các cánh múi chụm lên như ngón tay, dân gian gọi là bàn tay Phật. Phật thủ được trưng lên bàn thờ với niềm cầu mong được bàn tay Phật trời ban Phúc Lộc, che chở, nâng đỡ, được chỉ đường dẫn lối trong làm ăn, công việc... Mâm ngũ quả có Phật thủ thì giá trị được tăng lên nhiều lần, quý giá hơn nhiều lần. Loại quả quý này còn mang ý ngĩa cầu mong cho ông bà, cha mẹ sống lâu trăm tuổi, gia đình luôn yên lành, hạnh phúc, may mắn...